Chùa Việt Nam
Kinh28 câuEN🎧 Nghe · 5:08

Kinh A Di Đà

Amitābha Sūtra

Phật Thuyết A Di Đà Kinh

Thường tụng 3 biến

Giới thiệu

Kinh A Di Đà là một bản kinh quan trọng trong Phật giáo Đại thừa, thường được tụng vào các ngày rằm, mùng Một hoặc trong các thời khóa cầu an, cầu siêu. Kinh kể về cảnh giới Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà, khuyến khích mọi người phát tâm niệm Phật để được vãng sinh về cõi này.

Chuẩn bị & lễ vật

Trước khi tụng kinh, nên dâng hương, hoa, nước sạch lên bàn thờ Tam Bảo, giữ tâm thanh tịnh, ăn mặc chỉnh tề, quỳ hoặc ngồi ngay ngắn, hướng về bàn thờ.

Nội dung

  1. 1

    Tôi nghe như vầy: Một thời, Đức Phật ở nước Xá Vệ, tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, cùng với đại chúng gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo.

    Thus have I heard: At one time, the Buddha was staying in Sravasti, in the Jeta Grove, Anathapindika's Park, together with a great assembly of 1,250 monks.

  2. 2

    Lúc ấy, Đức Thế Tôn vào buổi tối, sau khi thuyết pháp xong, ngồi yên lặng, các vị đại Bồ-tát, Thanh văn đều có mặt đầy đủ.

    At that time, after giving a teaching in the evening, the World-Honored One sat in silence, with all the great Bodhisattvas and disciples present.

  3. 3

    Ngài Xá Lợi Phất đứng dậy, chắp tay thưa hỏi Đức Phật về việc làm thế nào để chúng sinh được sinh về cõi nước an lành.

    Venerable Śāriputra rose, joined his palms, and asked the Buddha how sentient beings could be born into a peaceful land.

  4. 4

    Đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: Từ đây đi về phương Tây, cách mười vạn ức cõi Phật, có một thế giới tên là Cực Lạc. Ở đó có Đức Phật hiệu là A Di Đà, hiện đang thuyết pháp.

    The Buddha said to Śāriputra: West of here, beyond a hundred thousand kotis of Buddha-lands, there is a world called Ultimate Bliss. In that land is a Buddha named Amitābha, who is now teaching the Dharma.

  5. 5

    Cõi nước Cực Lạc có bảy hàng lan can, bảy lớp lưới, bảy hàng cây đều bằng bảy thứ báu, trang nghiêm rực rỡ.

    The Land of Ultimate Bliss has seven rows of railings, seven layers of nets, and seven rows of trees, all made of seven precious jewels, magnificently adorned.

  6. 6

    Đất ở đó bằng vàng ròng, sáng chói, sạch sẽ, không có bụi bẩn, không có núi non, sông biển, chỉ toàn là đất bằng phẳng.

    The ground there is pure gold, shining and spotless, with no dust, mountains, rivers, or seas—only flat, even land.

  7. 7

    Trong cõi ấy có ao nước bảy báu, nước trong suốt, chia thành nhiều tầng, mỗi tầng đều tỏa ra ánh sáng đủ màu.

    There are ponds of seven jewels, with crystal-clear water, arranged in layers, each layer radiating lights of many colors.

  8. 8

    Dưới đáy ao là cát vàng, bốn phía ao có bậc thềm bằng vàng, bạc, lưu ly, pha lê.

    The bottom of the ponds is golden sand, and around the ponds are steps made of gold, silver, lapis lazuli, and crystal.

  9. 9

    Trên ao có hoa sen lớn như bánh xe, xanh thì ánh xanh, vàng thì ánh vàng, đỏ thì ánh đỏ, trắng thì ánh trắng, rất đẹp và thơm ngát.

    On the ponds are great lotus flowers as large as wheels: blue ones glow blue, yellow ones glow yellow, red ones glow red, and white ones glow white—beautiful and fragrant.

  10. 10

    Trong cõi ấy, ngày đêm sáu thời, trời mưa hoa trời, gió nhẹ thổi làm rung động các hàng cây báu, phát ra âm thanh vi diệu như nhạc trời.

    In that land, six times each day and night, heavenly flowers rain down, and gentle breezes make the jeweled trees ring with wondrous, celestial music.

  11. 11

    Người ở đó mỗi sáng sớm đều mang hoa trời đến cúng dường mười phương chư Phật, rồi trở về nước mình, ăn uống, đi kinh hành, tâm ý an vui.

    People there, every morning, bring heavenly flowers to offer to Buddhas in all directions, then return, eat, walk, and dwell in peace and joy.

  12. 12

    Cõi Cực Lạc có nhiều loài chim kỳ diệu như thiên nga, công, anh vũ, ca hát những âm thanh hòa nhã, diễn nói pháp mầu.

    The Pure Land has wondrous birds—swans, peacocks, parrots—singing harmonious sounds and teaching profound Dharma.

  13. 13

    Nghe tiếng chim ấy, mọi người đều tự nhiên phát tâm niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng.

    Hearing these birds, everyone naturally gives rise to mindfulness of the Buddha, the Dharma, and the Sangha.

  14. 14

    Cõi ấy không có ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh; chỉ có những người thiện lành sinh về đó.

    There are no evil paths—no hells, hungry ghosts, or animals—only the virtuous are born there.

  15. 15

    Người sinh về Cực Lạc đều có thân sắc vàng, đủ 32 tướng tốt như Phật, thường được nghe pháp, không còn thối chuyển trên đường Bồ-đề.

    Those born in the Pure Land have golden bodies, the Buddha's thirty-two marks, always hear the Dharma, and never fall back from the path to enlightenment.

  16. 16

    Trong cõi ấy, Đức Phật A Di Đà sống lâu vô lượng, các vị Bồ-tát, Thanh văn cũng sống lâu vô lượng.

    In that land, Amitābha Buddha lives for countless eons, as do the Bodhisattvas and disciples.

  17. 17

    Đức Phật A Di Đà từ khi thành Phật đến nay đã trải qua mười kiếp.

    Amitābha Buddha attained Buddhahood ten kalpas ago.

  18. 18

    Số lượng chúng sinh sinh về Cực Lạc nhiều vô số, không thể tính đếm được.

    The number of beings born in the Pure Land is countless, beyond measure.

  19. 19

    Người nào nghe danh hiệu Đức Phật A Di Đà, phát tâm tin tưởng, vui mừng, chuyên niệm danh hiệu Ngài từ một ngày đến bảy ngày, tâm không tán loạn, khi lâm chung sẽ được Ngài tiếp dẫn về Cực Lạc.

    Anyone who hears Amitābha Buddha's name, believes with joy, and single-mindedly recites his name for one to seven days without distraction, will be welcomed by him at life's end and reborn in the Pure Land.

  20. 20

    Chỉ cần một lòng tin sâu, nguyện thiết tha, chuyên niệm danh hiệu A Di Đà Phật, chắc chắn được vãng sinh.

    With deep faith, sincere aspiration, and dedicated recitation of Amitābha's name, one is certain to be reborn there.

  21. 21

    Không chỉ người xuất gia mà cả người tại gia, nam nữ, ai phát tâm đều có thể sinh về Cực Lạc.

    Not only monks and nuns, but laymen and laywomen—anyone who aspires—can be born in the Pure Land.

  22. 22

    Đức Phật bảo Ngài Xá Lợi Phất: Ta nói lời chân thật, không hư dối. Tất cả chư Phật trong mười phương đều khen ngợi công đức của Đức Phật A Di Đà.

    The Buddha said to Śāriputra: My words are true, not false. All Buddhas in the ten directions praise Amitābha Buddha's virtues.

  23. 23

    Chư Phật ở phương Đông, phương Nam, phương Tây, phương Bắc, phương trên, phương dưới, mỗi phương đều có vô số chư Phật, đều hiện tướng lưỡi rộng dài, nói lời chân thật, khuyên chúng sinh tin nhận kinh này.

    Buddhas in the East, South, West, North, above and below—countless in each direction—extend their broad tongues, speak truthfully, and urge beings to trust this sūtra.

  24. 24

    Ai nghe kinh này, nên phát tâm tin tưởng, nguyện sinh về Cực Lạc, sẽ được chư Phật hộ niệm, không rơi vào đường ác.

    Whoever hears this sūtra, develops faith, and aspires to be born in the Pure Land will be protected by all Buddhas and never fall into evil paths.

  25. 25

    Người nào đã phát tâm, đang phát tâm, sẽ phát tâm sinh về Cực Lạc đều được chư Phật hộ trì.

    Those who have aspired, are aspiring, or will aspire to be born in the Pure Land are all supported by the Buddhas.

  26. 26

    Đức Phật dạy: Người nghe kinh này nên ghi nhớ, suy nghĩ, giảng nói cho người khác, sẽ được công đức lớn.

    The Buddha taught: Those who hear this sūtra should remember, reflect, and share it with others, gaining great merit.

  27. 27

    Khi Đức Phật nói kinh này xong, Ngài Xá Lợi Phất cùng các vị Tỳ-kheo, Bồ-tát, trời, người đều hoan hỷ, tin nhận và thực hành theo lời Phật dạy.

    When the Buddha finished this sūtra, Śāriputra, the monks, Bodhisattvas, gods, and humans all rejoiced, accepted, and practiced the Buddha's teachings.

  28. 28

    Kinh A Di Đà đến đây là hết.

    Thus ends the Amitābha Sūtra.

Kinh A Di Đà · Thầy Thích Trí Thoát0:00 / 1:00:03
0%

Nguồn & bản quyền

Dịch nghĩa (trích) từ Hán tạng — Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh (Taishō) — do Vietnam Pagodas biên soạn bằng lời văn riêng

Giấy phép: Nguyên bản Hán tạng: công hữu · Bản dịch nghĩa & bản dịch: CC BY-SA 4.0 (Vietnam Pagodas)

Bản dịch nghĩa dễ đọc, không phải âm Hán-Việt; nên đối chiếu với bản kinh tại chùa khi tụng chính thức.

Âm thanh: bản tụng của Thầy Thích Trí Thoát, nguồn Pháp Hạnh (ph.tinhtong.vn) ph.tinhtong.vn. Ấn tống — phát hành miễn phí, phi thương mại; bản quyền thuộc Pháp Hạnh và người tụng. Free Dharma distribution, non-commercial; © Pháp Hạnh and the reciter.

Đọc chữ lớn, lưu vị trí đọc và tự điền tên tín chủ trong ứng dụng Vietnam Pagodas.

Các bài khác