Vietnam Pagodas

Chùa Vạn Đức

TP. Hồ Chí Minh

Chùa Vạn Đức

Overview & history

A full English article is not available for this pagoda yet; the content below is in Vietnamese.

Chùa Vạn Đức hiện tọa lạc tại số 502 trên đường Tô Ngọc Vân, thuộc khu phố 55, phường Tam Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Đây là một trong hai ngôi chùa lớn của Thành phố Thủ Đức. Chùa Vạn Đức là một trong những công trình kiến trúc tôn giáo có quy mô lớn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài giá trị về mặt thẩm mỹ, công trình còn là một kiểu mẫu cho nghệ thuật tạo hình trong kiến trúc hiện đại.

Lịch sử

Chùa Vạn Đức nằm cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 15 km, và cách chợ Thủ Đức khoảng 2 km. Đây là một ngôi chùa có nguồn gốc từ một ngôi nhà xưa của một gia đình khá giả hiến cúng rồi sửa lại làm chùa. Theo tài liệu, khi Chiến tranh Đông Dương bùng nổ, sợ đối phương lập căn cứ ở đây, vào năm 1946, chính quyền thực dân Pháp ra lệnh không cho dân ở trên núi Cấm nữa. Vì vậy, nhà sư Thích Thiện Quang (thượng Thiện hạ Quang, 1895 - 1953) phải dẫn các đồ đệ xuống núi, tạm trú tại nhà Phật tử ở Tri Tôn, và sau đó (đầu năm 1947) đến tu tại chùa Linh Bửu ở vùng Cầu Bông (nay thuộc Sài Gòn)....

Đến sáng ngày 26 tháng 11 năm Quý Tỵ (1953), nhà sư ấy an nhiên viên tịch và được các đệ tử đưa về an táng tại đất mộ của gia đình bà Ba Hộ (tên Nguyễn Thị Tánh, pháp danh Diệu Tuyết) ở Thủ Đức (trước 1975 là một quận của tỉnh Gia Định, nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Rằm tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1954), một đệ tử của nhà sư Thiện Quang là nhà sư Thích Trí Tịnh (thượng Trí hạ Tịnh; 1917 - 2014) từ chùa Linh Sơn (Vũng Tàu) về tham dự lễ chung thất và viếng mộ tôn sư (vì trong thời gian tang lễ, Thích Trí Tịnh đang nhập thất nên không về dự tang được).

Nhân đây, bà ba Hộ đã phát tâm cúng dường toàn bộ đất và ngôi nhà lớn tọa lạc trên đó cho nhà sư Trí Tịnh. Ngôi nhà này nguyên là của ông Nguyễn Văn Do, chú ruột thứ sáu của bà ba Hộ. Sau khi ông sáu mất không người thừa kế, bà Ba là cháu ruột nên được đứng chủ quyền. Sau khi nhận nhà và đất, ngày 16 tháng 3 (âm lịch) năm ấy, nhà sư Trí Tịnh cho thợ sửa lại nhà thành chùa (giữ nguyên hiện trạng, chỉ làm thêm phía trước cho giống chùa, rồi phía trước thờ Phật, phía sau thờ Tổ), và đặt tên là chùa Vạn Đức'.

Năm 1955, nhà sư Trí Tịnh thành lập hội Cực Lạc Liên Hữu tại đây, khuyến tấn mọi người niệm Phật cầu vãng sanh Tịnh độ. Năm 1956, nhà sư Trí Tịnh làm thêm nhà Tổ. Năm 1957, nhà sư tiếp tục cho xây nhà công quả, khu nhà bếp, giảng đường, Tăng phòng,...và đến năm 1958 thì hoàn thành. Đầu mùa hạ năm 1959, đồng thời với việc tổ chức An cư kiết hạ, giảng kinh Pháp Hoa Thông Nghĩa, nhà sư Trí Tịnh cho kiến thiết điện Quan Âm.

Năm 1963, do ngôi chùa (tiền thân là một ngôi nhà cũ) đã xuống cấp trầm trọng, nên phải trùng tu lại toàn bộ, và công trình được khởi công vào ngày vía Phật A Di Đà (17 tháng 11 năm Quý Mão, 1963). Kể từ năm 1990, Hòa thượng Thích Trí Tịnh (được tấn phong hòa thượng năm 1973) lần lượt cho trùng tu giảng đường (1990), Tăng phòng (1991), khu nhà bếp (1992), điện Quan Âm (sau khi xây xong tháp Phù Thi)...Ngoài ra, Hòa thượng cũng lần lượt cho xây mới một số hạng mục như: tháp Phù Thi (1993, dành để an trí nhục thân Hòa thượng Thích Trí Tịnh), thư viện, Niệm Phật đường, v.v... Đến năm Giáp Thân (2004), Hòa thượng Thích Trí Tịnh bắt đầu cho đại trùng tu chánh điện và nhà Tổ...

Kiến trúc

Chùa Vạn Đức do HT Thích Trí Tịnh khai sơn tọa lạc trên khu đất rộng, được đúc bằng bê-tông, tường gạch, móng cọc nhồi. Nền chùa và các bệ thờ đều dán đá granit màu xám. Lược kể một vài hạng mục chính:

Tam quan và điện Quan Âm lộ thiên: Tam quan xây ba tầng, mái lợp ngói thanh lưu ly truyền thống, trên các đầu đao có gắn hoa văn hình hoa sen cách điệu, nóc gắn hình "lưỡng long chầu Pháp luân". Qua khỏi tam quan là khoảng sân rộng trồng các loại cây kiểng, bon sai,...để tạo cảnh quan. Bên trái sân chùa có cội bồ đề rợp mát. Đối diện cội ấy là một ao sen, giữa có điện Quan Âm lộ thiên.

Tòa chánh điện chùa Vạn Đức cao 43,5 m, nhìn từ xa trông giống như một ngọn tháp chín tầng và hai tháp nhỏ năm tầng nhưng bên trong chỉ có hai tầng chính.

Tầng trên là nội điện thờ Phật, có nhiều ô cửa sổ, bên ngoài có lan can, bên trong tôn trí tượng Phật Thích Ca và Tam thế Phật. Xung quanh có bốn lớp lan can giống như những tầng mây trắng, và mỗi vì sao là những ô cửa gió có hình chữ "Phật". Hai bên hông lan can là hai cầu thang dẫn lên nội điện. Nổi bật trên nền kiến trúc nội điện là bức phù điêu cội bồ đề và phong cảnh sông Ni Liên Thiền. Trên vách sau chánh điện có bức phù điêu được đắp bằng xi-măng, xung quanh có tạc hình các vị thần Hộ pháp.

Tầng trệt là giảng đường, dùng làm nơi thuyết pháp cho Phật tử; sát vách giữa thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma tạc bằng đá cẩm thạch trắng và linh vị Hòa thượng Thích Thiện Quang.

Kỷ lục Việt Nam

Chùa Vạn Đức đã được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam xác lập là ngôi chùa có hai kỷ lục tính đến năm 2014:

Chánh điện cao nhất Việt Nam,

Bức phù điêu cây bồ đề đắp nổi lớn nhất Việt Nam

Sách tham khảo

Thích Trí Tịnh, "Tiểu sử HT Thích Trí Tịnh" in trong quyển Hương sen Vạn Đức. Nhà xuất bản Phương Đông, 2006.

Thượng tọa Hoằng Tri, "Vài nét về lịch sử chùa Vạn Đức" và "'Tiểu sử Hòa Thượng Vạn Linh" in trong Kỷ yếu trùng tu chùa Vạn Đức và Vạn Linh (gọi tắt là Kỷ yếu). Nhà xuất bản tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, 2006.

Visiting tips

  • Dress modestly; remove hats and keep quiet inside the main hall.
  • Incense, flowers and offerings are usually sold right outside the gate; light an odd number of sticks (1 or 3).
  • Most pagodas open from early morning to evening and are free to enter (some major sites charge a small scenic fee).
  • Full-moon days, the 1st of the lunar month and Tet are very crowded; visit on weekday mornings for a quiet experience.
  • Ask permission before photographing inside shrines; do not touch statues or altar objects.

Location

Coordinates: 10.86365, 106.74273

🧭 Directions on Google Maps

Other pagodas in TP. Hồ Chí Minh

Chùa Ấn Quang
Chùa Ấn Quang
Chùa Ấn Quang hay Tổ đình Ấn Quang là một ngôi chùa ở phường Vườn Lài, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam và đây cũng là một trường Phật học của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở miền Nam. Chùa Ấn Quang tọa lạc tại 243 đường Sư Vạn Hạnh, phường Vườn Lài, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được tạo lập năm 1948 và đã được mở rộng nâng cấp. Hiện nay chùa có thư viện và nhà xuất bản. Chùa Ấn Quang đã là nơi đặt trụ sở của Phật học đường Nam Việt, Giáo hội Tăng già Nam Việt (1959-1963), cơ sở chính của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và văn phòng Viện Hóa Đạo và Viện Tăng Thống (1976 - 1980), từng là trụ sở Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam (từ năm 1982 đến 2017, trụ sở Ban trị sự Thành hội hiện nay đã được dời về Việt Nam Quốc Tự). Chùa thường được gọi với tên Tổ đình Ấn Quang. Tổ đình Ấn Quang được xây dựng cách nay không lâu, nhưng lại giữ một vị trí rất đặc biệt trong lịch sử Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nơi đây đã từng chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong những bước thăng trầm và phát triển của đạo Phật ở miền Nam. Tổ đình Ấn Quang được xây dựng năm 1950, do Thiền sư Trí Hữu khai sơn, sau đó Thiền sư Nhất Hạnh từ Huế vào cùng xây dựng và kiến thiết, ban đầu bằng mái tranh, vách đất. Sau này chùa trở thành Phật học đường Nam Việt - viện Phật học với tinh thần đổi mới.
Chùa Bửu Long
Chùa Bửu Long
Chùa Bửu Long, tên chính thức là Thiền viện Tổ đình Bửu Long, là một ngôi chùa tọa lạc trên một ngọn đồi bên sông Đồng Nai tại địa chỉ số 81 đường Nguyễn Xiển, phường Long Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Chùa thuộc hệ phái Phật giáo nguyên thủy Nam tông, do cư sĩ Võ Hà Thuật thành lập năm 1942. Đến năm 2007, chùa được đầu tư xây dựng và trùng tu. Chùa Bửu Long mang nét kiến trúc các chùa ở Thái Lan, Ấn Độ kết hợp cùng nét kiến trúc các chùa thời Nguyễn. Điểm nhấn của chùa là ngôi bảo tháp có tên gọi Gotama Cetiya, được thi công xây dựng từ năm 2007, hoàn thành sau 6 năm. Bảo tháp Gotama Cetiya là nơi thờ xá lợi Phật và các Chư Thánh Tăng. Bảo tháp rộng trên 2.000 m², cao 70 m, được xây dựng theo nét của văn hóa Phù Nam. Xung quanh là các tháp nhỏ, đều làm bằng đồng, có màu vàng óng. Gotama Cetiya là ngôi bảo tháp có quy mô lớn nhất Việt Nam với 5 tháp lớn nhỏ, tháp chính điện ở trung tâm cao và lớn nhất với 7 tầng. Tầng trệt và tầng 2 là hội trường, tầng 3 và 4 là hai thiền đường, tầng 5 là tháp tôn trí xá lợi Phật và chư vị thánh tăng.
Chùa Cây Mai
Chùa Cây Mai
Chùa Cây Mai còn có tên là Mai Sơn tự (chùa núi Mai) hay Mai Khâu tự (chùa gò Mai), tọa lạc trên gò Mai, thuộc Gia Định xưa. Trong thời Pháp thuộc, ngôi chùa đã bị tháo gỡ, chỉ còn lại gò Mai gần như phẳng lì, nằm ở góc đường Hồng Bàng - Nguyễn Thị Nhỏ thuộc phường Minh Phụng, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa Chantarangsay
Chùa Chantarangsay
Chùa Chantarangsay, còn có tên gọi khác là chùa Candaransi, được biết đến ở tại địa phương với tên gọi không chính thức chùa Khmer, là một ngôi chùa Phật giáo Nam Tông tại phường Xuân Hòa (địa bàn Quận 3 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Được xây dựng vào năm 1946, chùa mang đậm ảnh hưởng văn hóa và kiến trúc của người Khmer, giao thoa giữa truyền thống Phật giáo và nghệ thuật kiến trúc cổ Campuchia. Hiện chùa tọa lạc tại số 164/235 đường Trần Quốc Thảo, bên bờ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Chùa Chantarangsay cùng với chùa Chùa Pothiwong được xem là di sản kiến trúc tiêu biểu của cộng đồng người Khmer khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
🏯
Chùa Giác Hải
Chùa Giác Hải trước gọi là chùa Giác Sơn được dựng vào năm 1887 bởi bà Trần Thị Liễu, chùa cúng cho Hòa thượng Hoằng Ân, sau đệ tử là ngài Từ Phong về trụ trì chùa, là giảng sư danh tiếng của Phật giáo có đến 20 chùa cúng ngài, sau đó chùa đổi tên chùa là Giác Hải. Chùa tọa lạc ở số 345/45 đường Hùng Vương, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa Giác Lâm
Chùa Giác Lâm
Chùa Giác Lâm (tiếng Trung: 覺林寺:; Hán-Việt: Giác Lâm tự) còn có các tên khác: Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm; là một trong những ngôi chùa cổ nhất của Thành phố Hồ Chí Minh. Đây chính là tổ đình của phái Thiền Lâm Tế tông ở Nam Bộ. Chùa tọa lạc tại số 565 (số cũ 118) đường Lạc Long Quân, thuộc Phường Bảy Hiền, Thành phố Hồ Chí Minh, và đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa - Thông tin) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia của Việt Nam theo quyết định số 1288-VH/QĐ ngày 16 tháng 11 năm 1988.