Vietnam Pagodas

Chùa Đồng Ngọ

Hải Dương

Overview & history

A full English article is not available for this pagoda yet; the content below is in Vietnamese.

Chùa Động Ngọ (Chữ Hán: 洞 午寺, phiên âm: Động Ngọ Tự) là một ngôi chùa cổ tọa lạc tại thôn Cập Nhất, phường Nam Đồng, thành phố Hải Phòng. Chùa Đồng Ngọ là một trong hai ngôi chùa cổ nhất của tỉnh Hải Dương cũ. Quốc sư Khuông Việt đã xây dựng chùa này vào năm 971 theo chiếu lệnh của vua Đinh Tiên Hoàng. Hiện nay chùa mang nhiều dấu ấn kiến trúc nghệ thuật cuối thế kỷ XVII, thuộc hệ phái Bắc tông, là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

Tên gọi

Tại chùa còn nhiều văn bia cổ và đặc biệt là một chiếc thống đá từ thời Lê có ghi "石 确 洞 午 寺" 1698 (phiên âm: Thạch thống Động Ngọ Tự).Tuy nhiên, do nhầm lẫn mà trên tam quan chùa hiện nay treo biển "同午寺" (phiên âm: Đồng Ngọ Tự).

Chùa thường được người địa phương gọi là chùa Cập Nhất theo tên của thôn nơi chùa tọa lạc, tên Nôm là chùa Phẩm. Chùa còn tên cũ trong các sách cổ là chùa Linh Ứng Động Ngọ (1692).

Kiến trúc

Cửa chính vào chùa xây kiểu gác chuông hai tầng, bốn mái chồng diêm, trên có treo một quả chuông cao 1,5m, đúc năm Gia Long thứ 12 (1813). Sau cổng chùa là tòa tiền đường uy nghi 5 gian 2 chái, cửa bức bàn. Nhà tam bảo rộng 4 gian có 21 bức tượng thờ xếp thành các lớp. Sau tam bảo là tổ đường 3 gian 4 mái, tọa lạc trên nền rất cao, phía trước có hai cây đại cổ thụ trên 300 năm tuổi.

Theo dòng chữ khắc trên vì kèo (nóc) chùa: Thái Bình nhị niên thừa Khuông Việt chỉ truyền hạ chiếu tạo tự. Đại Chính nguyên niên sắc tỷ kỳ ly tự Đạo Chu trụ trì thì chùa do nhà sư Khuông Việt khởi dựng vào năm 971 (Thái Bình nhị niên). Năm 1530 (Đại Chính nguyên niên), nhà sư Đạo Chu trụ trì tại đây đã trùng tu lại. Ngôi chùa đã nhiều lần được trùng tu qua các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Tại chùa còn nhiều chân tảng, ngói mũi hài cỡ lớn thời Lý, Trần.

Trước năm 1947, chùa có quy mô lớn. Nay nhỏ lại, bố cục vuông vắn, hình chữ quốc, mỗi mặt 5 gian. Đặc biệt là tòa Cửu phẩm vuông, hai tầng 8 mái, với 4 cột suốt, 12 cột con đỡ, 4 mái dưới, mái tầng trên đỡ thêm bởi 4 cột con.

Chùa Động Ngọ còn có nhiều công trình kiến trúc độc đáo bằng đá mới được xây dựng gần đây. Từ cuối thế kỷ XX, đại đức Thích Thanh Thắng, khi về trụ trì tại đây, đã đi khắp các vùng Bắc Bộ kiếm tìm những cối đá, trục đá, cầu đá, quả trục lăn lúa mang về chùa rồi sắp đặt thành các công trình đặc sắc. Nổi bật là bờ tường với chấn song trục đá; hai chiếc giếng tròn được trang trí bằng rất nhiều trục đá, cối đá trước sân chùa; cây cầu đá dài gần 3m; hành lang, lối đi bằng cối đá đủ các kích cỡ. Đặc biệt là tấm bản đồ Việt Nam dài 30m, rộng 10m được xếp bằng khoảng 300 cối đá trong khuôn viên chùa.

Các công trình bị chiến tranh tàn phá, một số còn lại bị phong hóa hư nát, từ đầu thập niên 1990, sau Nghị quyết 24 của Bộ Chính trị về "Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới", đã được trùng tu xây dựng: xây ngôi chính điện (1994), xây dựng tam quan - gác chuông (1996), trùng tu ngôi thượng điện - nhà Tổ (1997), trùng tu ngôi Cửu phẩm liên hoa (1999), điện Thánh Mẫu (2000), tạc thêm tượng Cửu phẩm liên hoa (2004), dựng tháp tổ sư Chân Nguyên (2011), tạc 21 pho tượng Phật, tổ bằng đá (2015).

Văn bia và cổ vật

Chùa có tấm bia cổ (nay đã mất), hai mặt khắc hai bài ký với hai niên đại sớm gồm: Lý Thái Bình (Lý Thánh Tông, 1054 – 1058, niên hiệu Long Thụy Thái Bình) và Đại Chính nguyên niên (Mạc Thái Tông, 1530). Ngoài ra có một bát hương năm Hoằng Định thứ 19 (1619).

Tấm bia "Kiến khai Cửu Phẩm Liên Hoa bi ký" có niên đại năm Chính Hòa thứ 13 (1692) (đời vua Lê Hy Tông), xác nhận niên đại của kiến trúc hiện thời, bia ghi:

Cửu Phẩm Liên Hoa

Cây Cửu Phẩm Liên Hoa hơn 320 năm tuổi là tác phẩm nghệ thuật giá trị và lâu đời nhất tại chùa hiện nay. Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ đã công nhận tòa Cửu Phẩm Liên Hoa này là bảo vật quốc gia. Hiện nay tại Việt Nam chỉ tồn tại đúng ba tòa tháp Cửu phẩm liên hoa cổ bằng gỗ, hai tháp còn lại đặt tại chùa Giám (Hải Dương) và chùa Bút Tháp (Bắc Ninh).

Trong phần Tiểu sử và trong phần tựa tác phẩm Kiến tính thành Phật có chép về thiến sư Chân Nguyên Tuệ Đăng trong 9 năm từ năm 1684:"... ra sức tạo dựng đài Cửu Phẩm Liên Hoa, qua chín năm thì hoàn thành ba đài ở ba nơi: đài ở chùa Quỳnh Lâm núi Tiên Du, đài ở chùa Hoa Yên núi Yên Tử, đài ở chùa Linh Ứng huyện Thanh Hà".

Cây Cửu Phẩm Liên Hoa đặt ở giữa lòng nội thất tòa (nhà) Cửu phẩm, cao 5m30, mặt cắt 6 cạnh đều, 8 tầng dưới, mỗi tầng cao đều 54 cm, tầng trên cùng cao 98 cm. 9 tầng, 6 mặt, mỗi mặt gắn 3 pho tượng nhỏ, tổng số tượng là 162 pho, năm 1989 còn 146 pho. Ba tượng nhỏ mỗi mặt gồm Phật A Di Đà ở giữa, hai bên là tượng Quan Âm Bồ Tát và Thế Chí Bồ Tát, cũng có cạnh là tượng Phật A Di Đà và Văn Thù Bồ Tát, Phổ Hiển Bồ Tát. Các tượng có kích cỡ bằng bắp tay được tạo tác bằng gỗ, thếp vàng rất tinh xảo. Nhìn tổng thể, tòa cửu phẩm là một kiến trúc đặc sắc về thế giới Phật pháp vô biên, huyền diệu, tầng tầng lớp lớp.

Cây Cửu Phẩm Liên Hoa được đặt trên những chiếc chân cột đá hình hoa sen. Trước đây đài cửu phẩm có thể quay tròn quanh trục. Qua thời gian, đến nay đài cửu phẩm không còn quay được nữa. Trong 162 pho tượng cổ trên tòa cửu phẩm đã bị kẻ gian lấy mất 60 pho. Nhiều pho tượng hiện giờ mới được làm lại khi trùng tu (năm 1999).

Hoành phi, câu đối

Ở nhà tổ của chùa hiện còn bức hoành phi: 曇 花 一 現 (Đàm hoa nhất hiện: nghĩa là: hoa Quỳnh chỉ hiện một lần, ý nói sự cao quý; giống thành ngữ: Sớm nở tối tàn)

Visiting tips

  • Dress modestly; remove hats and keep quiet inside the main hall.
  • Incense, flowers and offerings are usually sold right outside the gate; light an odd number of sticks (1 or 3).
  • Most pagodas open from early morning to evening and are free to enter (some major sites charge a small scenic fee).
  • Full-moon days, the 1st of the lunar month and Tet are very crowded; visit on weekday mornings for a quiet experience.
  • Ask permission before photographing inside shrines; do not touch statues or altar objects.

Location

Coordinates: 20.94045, 106.36394

🧭 Directions on Google Maps

Other pagodas in Hải Dương

Chùa An Ninh
Chùa An Ninh
Chùa An Ninh (安寧寺), (tên chữ: Vĩnh Khánh tự 永慶寺), dân gian gọi là Chùa Trăm Gian xứ Đông, ở Vạn Lộng trang sau đổi thành làng An Ninh rồi An Đông thuộc xã An Phú, thành phố Hải Phòng. Chùa có từ thời Trần, trùng tu vào thời Lê và Nguyễn, hiện còn 85 gian, 37 pho tượng gỗ, hàng trăm bản in kinh Phật và nhiều cổ vật có giá trị. Đây là một ngôi chùa lớn, kiến trúc còn khá hoàn chỉnh. Hàng năm, vào ngày 13 tháng 9, chùa tổ chức lễ hội. Chùa An Ninh là một di tích đã được xếp hạng năm 1990.
🏯
Chùa Bạch Hào
Chùa Hào Xá hay Chùa Hào (gọi theo Hán-Việt là Bạch Hào cổ thiền tự 白豪古禪寺), ở làng Hào Xá, xã Thanh Hà, thành phố Hải Phòng; được xây dựng từ thời nhà Lý. Là ngôi chùa có phong cảnh sông nước hữu tình, mang nhiều nét độc đáo của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1993 và năm 2015; lễ hội chùa Hào Xá là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Chùa Côn Sơn
Chùa Côn Sơn
Chùa Côn Sơn (tên chữ là Thiên Tư Phúc tự hay Côn Sơn Tự), còn gọi là chùa Hun, là một ngôi chùa nằm bên ngọn núi Côn Sơn (hay còn gọi là núi Hun) ở phường Trần Hưng Đạo, thành phố Hải Phòng, Việt Nam. Chùa đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xếp hạng di tích quốc gia ngay trong đợt I năm 1962. Đây là di tích quan trọng thuộc khu di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc được công nhận là di tích quốc gia đặc biệt năm 2012.
🏯
Chùa Giám
Chùa Giám (tên chữ là Nghiêm Quang Tự) (chữ Hán: 嚴光寺) là một ngôi chùa thuộc xã Cẩm Giàng, thành phố Hải Phòng. Đây là công trình Phật giáo độc đáo chỉ có duy nhất ở Việt Nam.
🏯
Chùa Minh Khánh
Chùa Minh Khánh (chùa Hương Đại, chùa Hương) tọa lạc ở làng Bình Hà thuộc xã Thanh Hà, thành phố Hải Phòng; thuộc hệ phái Bắc tông, thờ thờ Phật và đức vua Trần Nhân Tông; là di tích lịch sử văn hóa Quốc gia năm 1990.
Chùa Thanh Mai
Chùa Thanh Mai
Chùa Thanh Mai (tên chữ: Thanh Mai tự) là một danh lam vốn thuộc làng Thanh Mai, huyện Phưỡng Nhãn, Kinh Bắc, nay thuộc địa phận tổ dân phố Thanh Mai, phường Nguyễn Trãi, thành phố Hải Phòng, Việt Nam. Chùa được Thiền sư Pháp Loa tôn giả xây dựng vào khoảng năm 1329 gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của ông, vị tổ thứ hai của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.