Chùa Việt Nam

Thiền viện Vạn Hạnh (Thành phố Hồ Chí Minh)

TP. Hồ Chí Minh

Giới thiệu & lịch sử

Thiền viện Vạn Hạnh, là một thiền viện và viện nghiên cứu Phật học ở Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Thiền viện nằm ở số 750 đường Nguyễn Kiệm, phường Đức Nhuận. Trước năm 1975, nơi đây là phân khoa Khoa học ứng dụng thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất với Hòa thượng Thích Minh Châu làm Viện trưởng. Năm 1976, sau khi viện Đại học Vạn Hạnh bị giải thể, hòa thượng viện trưởng đã đổi thiền viện này làm nơi tu trì và nghiên cứu Phật học. Hiện nay, Thiền viện Vạn Hạnh là cơ sở 1 của Học Viện Phật Giáo Việt Nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh.

Kiến trúc

Thiền viện xây trên một diện tích khoảng 1 hecta. Bao gồm một ngôi chánh điện, một nhà tổ, nhiều dãy nhà làm trụ sở trường Cao cấp Phật học Việt Nam, văn phòng Viện nghiên cứu Phật học, văn phòng Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam; dãy nhà tăng và trai đường.

Cổng thiền viện được xây năm 1990 theo kiểu kiến trúc cổ ở Huế do Đại đức Tâm Đoan và Đại đức Tịnh Quang đảm trách. Chánh điện gồm hai tầng. Tại tầng trệt, gian giữa thờ tượng đức Thích Ca màu trắng ngà ngồi trên tòa sen. Hai bên là phòng đọc sách của thư viện. Tầng lầu là phòng khách và phòng làm việc của Hòa thượng Viện chủ.

Ngôi nhà Tổ có hai tầng. Tầng lầu thờ Phật và thờ Tổ. Trên bàn thờ Tổ có chân dung cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, đệ nhất Tăng thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Tầng trệt là giảng đường, nơi hay tổ chức các buổi giảng kinh, thuyết pháp, nói chuyện chuyên đề, biểu diễn văn nghệ...

Nghiên cứu, hoằng giáo

Thiền viện Vạn Hạnh giữ một vị trí quan trọng trong việc nghiên cứu và hoằng dương Phật pháp. Đây là nơi làm việc của Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam do Hòa thượng Thích Minh Châu, Tiến sĩ Triết học và Phật học, làm Viện trưởng. Cơ cấu của Viện gồm: Ban Phật giáo Việt Nam, Ban Phật giáo quốc tế, Ban Phật giáo chuyên môn, Ban in ấn và xuất bản. Ngoài ra, ở đây còn đặt văn phòng Hội đồng phiên dịch Đại Tạng Kinh Việt Nam do Hòa thượng Thích Minh Châu làm Chủ tịch. Trong bốn năm qua, Viện đã xuất bản nhiều bộ kinh trong Tam Tạng kinh điển như: Kinh Trường Bộ (2 tập), Kinh Trung Bộ (3 tập), Kinh Tương Ưng (5 bộ) ... được Hòa thượng Thích Minh Châu dịch từ nguyên bản Pali ra tiếng Việt; Kinh Trường A Hàm (2 tập), Trung A Hàm (3 tập), Tạp A Hàm (2 tập) ... được các vị Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Thích Trí Siêu ... dịch từ bản Hán tạng ra tiếng Việt. Đây là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cũng như trong đời sống văn hóa dân tộc.

Giáo dục, đào tạo

Thiền viện Vạn Hạnh còn là một trung tâm đào tạo tăng tài cho các tỉnh phía Nam. Nơi đây đặt trường Cao cấp Phật học Việt Nam. Ban Giám hiệu của Trường hiện nay (khóa III, nhiệm kỳ III, 1993 - 1997) gồm có:

Hiệu trưởng: Hòa thượng Thích Minh Châu

Phó Hiệu trưởng: Hòa thượng Thích Thiện Siêu

Phó Hiệu trưởng: Thượng tọa Thích Giác Toàn

Phó Hiệu trưởng: Cư sĩ Tống Hồ Cầm

Tổng Thư ký: Cư sĩ Trần Tuấn Mẫn

Chánh văn phòng: Đại đức Thích Đạt Đạo

Trường đào tạo theo phương thức tập trung thông qua một kỳ thi tuyển, mỗi khóa học kéo dài 4 năm, với văn bằng tương đương trình độ đại học. Từ năm 1984 đến nay, Trường đã mở được 3 khóa, đào tạo hơn 400 Tăng Ni sinh. Chương trình giảng dạy gồm phần nội điển do chư tôn túc giảng sư của Giáo hội phụ trách và phần ngoại điển do các giáo sư, giảng viên các trường Đại học đảm nhiệm.

Ngoài các trách vụ lãnh đạo Viện nghiên cứu Phật học và trường Cao cấp Phật học, Hòa thượng Thích Minh Châu còn đảm đương nhiệm vụ Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam kiêm Trưởng ban Phật giáo quốc tế, Phó Chủ tịch Hội Phật giáo châu Á vì hòa bình (ABCP), Chủ tịch Trung tâm ABCP Việt Nam. Hòa thượng đã nhiều lần tham gia các diễn đàn, hội thảo, hội nghị về văn hóa Phật giáo ở nước ngoài.

Các sinh hoạt khác

Thiền viện Vạn Hạnh thường xuyên được đón tiếp các đoàn đại biểu các Giáo hội Phật giáo trên thế giới và nhiều đoàn khách quốc tế đến làm việc, thăm viếng, cùng đông đảo du khách, Phật tử đến lễ bái, sinh hoạt, nhất là vào ngày lễ Phật đản, Vu lan ...

Kinh nghiệm đi chùa

  • Trang phục lịch sự, kín đáo; bỏ mũ nón và giữ yên lặng khi vào chánh điện.
  • Hương, hoa và lễ vật thường được bán ngay trước cổng chùa; chỉ nên thắp số lẻ (1 hoặc 3 nén).
  • Hầu hết các chùa mở cửa từ sáng sớm đến chiều tối và không thu vé (một số danh thắng lớn có vé thắng cảnh).
  • Dịp rằm, mùng 1 và lễ Tết rất đông; nếu muốn vãn cảnh yên tĩnh nên đi ngày thường buổi sáng.
  • Xin phép trước khi chụp ảnh trong điện thờ; không tự ý chạm vào tượng và đồ thờ.

Vị trí

Toạ độ: 10.80596, 106.67849

🧭 Chỉ đường trên Google Maps

Chùa khác tại TP. Hồ Chí Minh

Chùa Ấn Quang
Chùa Ấn Quang
Chùa Ấn Quang hay Tổ đình Ấn Quang là một ngôi chùa ở phường Vườn Lài, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam và đây cũng là một trường Phật học của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở miền Nam. Chùa Ấn Quang tọa lạc tại 243 đường Sư Vạn Hạnh, phường Vườn Lài, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được tạo lập năm 1948 và đã được mở rộng nâng cấp. Hiện nay chùa có thư viện và nhà xuất bản. Chùa Ấn Quang đã là nơi đặt trụ sở của Phật học đường Nam Việt, Giáo hội Tăng già Nam Việt (1959-1963), cơ sở chính của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và văn phòng Viện Hóa Đạo và Viện Tăng Thống (1976 - 1980), từng là trụ sở Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam (từ năm 1982 đến 2017, trụ sở Ban trị sự Thành hội hiện nay đã được dời về Việt Nam Quốc Tự). Chùa thường được gọi với tên Tổ đình Ấn Quang. Tổ đình Ấn Quang được xây dựng cách nay không lâu, nhưng lại giữ một vị trí rất đặc biệt trong lịch sử Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nơi đây đã từng chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong những bước thăng trầm và phát triển của đạo Phật ở miền Nam. Tổ đình Ấn Quang được xây dựng năm 1950, do Thiền sư Trí Hữu khai sơn, sau đó Thiền sư Nhất Hạnh từ Huế vào cùng xây dựng và kiến thiết, ban đầu bằng mái tranh, vách đất. Sau này chùa trở thành Phật học đường Nam Việt - viện Phật học với tinh thần đổi mới.
Chùa Bửu Long
Chùa Bửu Long
Chùa Bửu Long, tên chính thức là Thiền viện Tổ đình Bửu Long, là một ngôi chùa tọa lạc trên một ngọn đồi bên sông Đồng Nai tại địa chỉ số 81 đường Nguyễn Xiển, phường Long Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Chùa thuộc hệ phái Phật giáo nguyên thủy Nam tông, do cư sĩ Võ Hà Thuật thành lập năm 1942. Đến năm 2007, chùa được đầu tư xây dựng và trùng tu. Chùa Bửu Long mang nét kiến trúc các chùa ở Thái Lan, Ấn Độ kết hợp cùng nét kiến trúc các chùa thời Nguyễn. Điểm nhấn của chùa là ngôi bảo tháp có tên gọi Gotama Cetiya, được thi công xây dựng từ năm 2007, hoàn thành sau 6 năm. Bảo tháp Gotama Cetiya là nơi thờ xá lợi Phật và các Chư Thánh Tăng. Bảo tháp rộng trên 2.000 m², cao 70 m, được xây dựng theo nét của văn hóa Phù Nam. Xung quanh là các tháp nhỏ, đều làm bằng đồng, có màu vàng óng. Gotama Cetiya là ngôi bảo tháp có quy mô lớn nhất Việt Nam với 5 tháp lớn nhỏ, tháp chính điện ở trung tâm cao và lớn nhất với 7 tầng. Tầng trệt và tầng 2 là hội trường, tầng 3 và 4 là hai thiền đường, tầng 5 là tháp tôn trí xá lợi Phật và chư vị thánh tăng.
Chùa Cây Mai
Chùa Cây Mai
Chùa Cây Mai còn có tên là Mai Sơn tự (chùa núi Mai) hay Mai Khâu tự (chùa gò Mai), tọa lạc trên gò Mai, thuộc Gia Định xưa. Trong thời Pháp thuộc, ngôi chùa đã bị tháo gỡ, chỉ còn lại gò Mai gần như phẳng lì, nằm ở góc đường Hồng Bàng - Nguyễn Thị Nhỏ thuộc phường Minh Phụng, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa Chantarangsay
Chùa Chantarangsay
Chùa Chantarangsay, còn có tên gọi khác là chùa Candaransi, được biết đến ở tại địa phương với tên gọi không chính thức chùa Khmer, là một ngôi chùa Phật giáo Nam Tông tại phường Xuân Hòa (địa bàn Quận 3 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Được xây dựng vào năm 1946, chùa mang đậm ảnh hưởng văn hóa và kiến trúc của người Khmer, giao thoa giữa truyền thống Phật giáo và nghệ thuật kiến trúc cổ Campuchia. Hiện chùa tọa lạc tại số 164/235 đường Trần Quốc Thảo, bên bờ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Chùa Chantarangsay cùng với chùa Chùa Pothiwong được xem là di sản kiến trúc tiêu biểu của cộng đồng người Khmer khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
🏯
Chùa Giác Hải
Chùa Giác Hải trước gọi là chùa Giác Sơn được dựng vào năm 1887 bởi bà Trần Thị Liễu, chùa cúng cho Hòa thượng Hoằng Ân, sau đệ tử là ngài Từ Phong về trụ trì chùa, là giảng sư danh tiếng của Phật giáo có đến 20 chùa cúng ngài, sau đó chùa đổi tên chùa là Giác Hải. Chùa tọa lạc ở số 345/45 đường Hùng Vương, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa Giác Lâm
Chùa Giác Lâm
Chùa Giác Lâm (tiếng Trung: 覺林寺:; Hán-Việt: Giác Lâm tự) còn có các tên khác: Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm; là một trong những ngôi chùa cổ nhất của Thành phố Hồ Chí Minh. Đây chính là tổ đình của phái Thiền Lâm Tế tông ở Nam Bộ. Chùa tọa lạc tại số 565 (số cũ 118) đường Lạc Long Quân, thuộc Phường Bảy Hiền, Thành phố Hồ Chí Minh, và đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa - Thông tin) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia của Việt Nam theo quyết định số 1288-VH/QĐ ngày 16 tháng 11 năm 1988.