Chùa Việt Nam

Đình Đại Phùng

Hà Nội

Giới thiệu & lịch sử

Đình Đại Phùng là một ngôi đình có vị trí nằm ở xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội. Ngôi đình này được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam quyết định xếp hạng và công nhận là di tích quốc gia đặc biệt vào năm 2020. Đình nổi tiếng được biết đến với nghệ thuật kiến trúc gỗ cổ được coi là kinh điển quý hiếm ở Việt Nam.

Vị trí

Đình Đại Phùng có vị trí toạ lạc tại xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng. nằm sát bờ sông Đáy, cách sông Hồng 7 km và nằm trên vị trí đất cao. Đình này còn chiếm được vị thế cao nhất của làng, mặt chính quay hướng Tây, có lệch sang hướng Bắc một ít. Trước mặt đình vài trăm mét là sông Đáy chảy từ phải qua trái, thuận lợi cho nghề nông và thương nghiệp trong quá khứ. Bên trái đình là Ngôi chùa Tam Giáo và xóm làng trù phú bao quanh.

Lịch sử

Tên đình Đại Phùng được gọi theo tên làng, nay thuộc Xã Đan Phượng, huyện Đan Phượng. Tên gọi này được định hình từ ít nhất là năm 1684. Dựa vào dấu tích nghệ thuật còn tồn tại, ngôi đình này được tin rằng đã xây dựng vào khoảng cuối thế kỉ 17. Đình Đại Phùng thờ hai vị thần là Tích Lịch Hòa Quang và tướng Vũ Hùng.

Năm 2010, đình được trùng tu lớn với kinh phí trên 20 tỷ đồng, được gắn biển Công trình kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Năm 2020, đình Đại Phùng được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.

Kiến trúc

Đình Đại Phùng được dựng theo dạng chữ nhất, chỉ có một toà nhà lớn mặt nền hình chữ nhật với chiều dài xấp xỉ hơn 21m và chiều rộng 11,37m. Đình có 3 gian, 2 chái, 2 dĩ với 6 hàng chân cột. Gian giữa có diện tích lớn nhất. Kích thước này được đánh giá là tương thích với hệ mặt bằng chung của các ngôi đình Xứ Đoài nổi tiếng đương thời. Ngay sát toà Đại Đình cũng là một toà tiền tế làm nơi sinh hoạt tế lễ của làng, nhiều khi toà tiền tế này còn thay đại đình tham gia công việc của làng. Bên phải toà này có dòng chữ "Cảnh Hưng thập ngũ niên, mạnh hạ cốc nhật tu tạo đại cát" (ý đề cập tới thời gian xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 15 – năm 1574). Tuy vậy, dòng chữ được nhận định là không đáng tin cậy vì di tích gắn liền với niên đại Cảnh Hưng thường là nghệ thuật khắc chìm hoặc nổi, nhưng ở đây được viết bằng mục đen. Kiến trúc này đã che chắn mặt trước của đình, bị xem là không những không có tác dụng tôn cao giá trị của kiến trúc chính mà còn làm hạn chế và tính bề thế của đình.

Sau nhiều thời gian cùng biến cố lịch sử, người dân đã làm lu mờ nhiều dấu tích thành phần thuộc mặt bằng của đình, tới ngày nay chỉ còn hai kiến trúc là toà Tiền tế và toà Đại đình cùng một sân lát gạch ở phía trước. Ao đình và ba phía bên cạnh đình đã bị nhà dân cùng đường đi lấn chiếm cận kề, qua đó tính phong thuỷ của đình phần nào bị phá vỡ.

Nghệ thuật chạm khắc

Cũng như nhiều ngôi đình tại xứ Đoài, Đình Đại Phùng có điểm nổi bật nhất nằm ở nghệ thuật chạm khắc. Nghệ nhân đã sử dụng một số kĩ thuật chạm khắc như chạm bong, lộng, nổi cao... và nhiều đề tài và bố cục. Đó là biểu tượng gắn liền với thế lực tâm linh mang ước vọng cho một mùa màng bội thu của người dân, là những linh vật ở những trạng thái tĩnh, động khác nhau, vừa thể hiện vui tươi và cũng nghiêm trọng. Nhưng nổi bật hơn cả là hình tượng gắn với hoạt cảnh liên quan tới cuộc sống dân thường. Trong điêu khắc của đình Đại Phùng, hình tượng con người được thể hiện vào điểm xuyết vào nền của rồng và đao mác.

Lễ hội

Lễ hội đình Đại Phùng được tổ chức mỗi năm 3 lần. Ngày 18 tháng Giêng là ngày đản sinh của thánh Vũ Hùng, cũng là lễ hội lớn nhất trong năm của đình. Ngày lễ hội thứ hai là ngày 12 tháng 2 để tưởng nhớ thần Tích Lịch Hào Quang, vị thần hoàng chung của cả tổng Phùng; còn ngày lễ thứ ba là ngày 18 tháng 11, kỷ niệm ngày hóa của Vũ Hùng.

Kinh nghiệm đi chùa

  • Trang phục lịch sự, kín đáo; bỏ mũ nón và giữ yên lặng khi vào chánh điện.
  • Hương, hoa và lễ vật thường được bán ngay trước cổng chùa; chỉ nên thắp số lẻ (1 hoặc 3 nén).
  • Hầu hết các chùa mở cửa từ sáng sớm đến chiều tối và không thu vé (một số danh thắng lớn có vé thắng cảnh).
  • Dịp rằm, mùng 1 và lễ Tết rất đông; nếu muốn vãn cảnh yên tĩnh nên đi ngày thường buổi sáng.
  • Xin phép trước khi chụp ảnh trong điện thờ; không tự ý chạm vào tượng và đồ thờ.

Đọc thêm & tham khảo

Các liên kết hữu ích để tìm hiểu thêm trước khi ghé thăm:

Vị trí

Toạ độ: 21.09099, 105.66249

🧭 Chỉ đường trên Google Maps

Chùa khác tại Hà Nội

🏯
Các chùa ở Hương Sơn
Hương Sơn là một xã nằm ở phía nam huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Tại đây có nhiều dãy núi đá vôi kề bên những dòng suối uốn lượn quanh co. Trên núi và trong các hang, người ta đã cho xây dựng nhiều đền chùa mà trung tâm là chùa Hương trong động Hương Tích. Hệ thống chùa chiền, đền thờ và hang động nằm trong khu vực này dựa theo những ngọn núi đá vôi và rừng nhiệt đới, diện tích tất cả khoảng chừng 6 km².
🏯
Chùa Anh Linh
Chùa Anh Linh hay Anh Linh Tự nằm ở phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Chùa do công chúa Trần Khắc Hãn (công chúa Túc Trinh), con gái vua Trần Nhân Tông đã giúp nhân dân khai hoang, lập làng và xây dựng nên chùa này. Năm 1993, chùa được xếp hạng di tích lịch sử nghệ thuật.
Chùa Bà Đá
Chùa Bà Đá
Chùa Bà Đá, còn có các tên: Linh Quang tự, Sùng Khánh tự, là một ngôi chùa cổ ở số 3 phố Nhà Thờ, Hà Nội, gần hồ Hoàn Kiếm. Chùa Bà Đá được xây năm 1056 dưới đời Lý Thánh Tông. Chùa được dựng trên nền tháp Báo Thiên nổi tiếng của kinh thành Thăng Long xưa. Chùa có tiền đường xây theo kiểu chữ nhất, trung đường xây theo kiểu chữ đinh, được nối liền với nhau, tạo nên một khối kiến trúc vuông vắn. Trong chùa có nhiều tượng gỗ. Chùa nằm trên một con phố nhỏ và dài chỉ vài trăm mét nhưng hiện diện cả hai hệ ý thức tín ngưỡng Phật giáo và Công giáo. Chùa vốn là trường sở của Lâm Tế tông; hiện nay chùa là trụ sở chính Thành hội Phật giáo Hà Nội. Trong chùa có Trường Trung cấp Phật học Hà Nội. Tại chùa hàng năm vẫn thường xuyên là nơi tổ chức các buổi lễ của Thành hội Phật giáo Hà Nội. Trước kia trong chùa có Tượng Phát Lâm (tượng có nụ cười yêu đời) được coi là một trong tứ khí của Hà Nội.
🏯
Chùa Bà Già
Chùa Bà Già là một ngôi chùa ở làng Phú Gia, phường Phú Thượng, Hà Nội.
Chùa Bà Nành (Hà Nội)
Chùa Bà Nành (Hà Nội)
Chùa Bà Nành (còn có tên là Tiên Phúc tự), là một ngôi chùa tọa lạc ở số nhà 27 phố Văn Miếu (Hà Nội), một cổng khác nằm tại số 154 phố Nguyễn Khuyến.
Chùa Bà Ngô (Hà Nội)
Chùa Bà Ngô (Hà Nội)
Chùa Bà Ngô là một ngôi chùa cổ ở Hà Nội, có niên đại từ thời vua Lý Nhân Tông, có tên chữ là Ngọc Hồ tự tức Chùa Ngọc Hồ, hiện nay tọa lạc số 128 phố Nguyễn Khuyến, phường Văn Miếu, Hà Nội. Người Pháp quen gọi đây là chùa Sinh Từ, vì nó nằm trên đường Sinh Từ. Trải qua gần 900 năm tồn tại, chùa Bà Ngô lưu giữ được nhiều văn bia, câu đối và một khối lượng di vật rất lớn ở nhiều thể loại như long ngai, bài vị, các tế khí... Chùa là một kiến trúc tôn giáo đẹp, độc đáo gắn liền với nhiều sự tích và nhân vật trong tiến trình phát triển của lịch sử Thăng Long - Hà Nội.