Chùa Việt Nam

Đình Chèm

Hà Nội

Đình Chèm

Giới thiệu & lịch sử

Đình Chèm là ngôi đình của làng Thụy Phương (tên Nôm là Chèm), nay thuộc phường Đông Ngạc, thành phố Hà Nội. Đình thờ Thượng đẳng Thiên vương Lý Ông Trọng và Hoàng phi Bạch Tĩnh Cung, đều vào thời An Dương Vương. Đình Chèm được xem là một trong những ngôi đình cổ nhất Việt Nam, và là một công trình kiến trúc có nghệ thuật chạm khắc độc đáo. Ngoài làng Thụy Phương, đình còn là nơi thờ tự của người dân hai làng lân cận, Hoàng Xá và Liên Mạc.

Đình Chèm không chỉ là một công trình với kiến trúc cổ kính, mà còn mang trong mình sự tích về một vị tướng tài đức, có công dẹp giặc cứu nước.

Đặc điểm

Đình Chèm được xây dựng theo lối kiến trúc nội công ngoại quốc, chắc chắn và công phu.

Bên trong đình, các cột, mái được chạm trổ tinh vi. Bên ngoài có tam quan, 4 cột đồng trụ cổ kính. Gian trong cùng của ngôi đình có hai bức tượng: tượng Thượng đẳng Thiên vương cao 2 trượng và bức tượng công chúa nước Tần - Hoàng phi Bạch Tĩnh Cung cao 1 trượng 8 có dư.

Hiện ở Đình Chèm vẫn còn lưu giữ chiếc lư hương ngàn năm tuổi rất quý hiếm.

Các vị thần được thờ

Thượng Đẳng Thiên Vương (Hy Khang Thiên Vương) Lý Ông Trọng: Thần chủ.

Hoàng Phi Bạch Tĩnh Cung Công Chúa: con gái Tần Thủy Hoàng, vợ của Thánh Chèm.

Ông Sứ: Ân nhân của thánh Chèm, chữa bệnh cho Thánh.

Lục vị Thánh Vương tử: Các con của Thánh Chèm, 4 trai, 2 gái.

Lịch sử

Không rõ đình Chèm được xây dựng lần đầu khi nào. Theo truyền miệng, đình có niên đại cách đây hơn 2000 năm. Song hiện trong đình chỉ lưu giữ được nhiều hình chạm khắc gỗ phong cách thế kỷ 18, có hai pho tượng vợ chồng Lý Thân bằng gỗ sơn son thếp vàng tạc năm 1888. Từ xưa nay, đình Chèm vẫn luôn ngự sát bên bờ sông Hồng.

Làng Chèm nằm cạnh sông Hồng nên thường xuyên bị lũ lụt đe dọa. Vào năm 1902, đình được kiệu lên cao thêm 2,4 mét chỉ bằng các dụng cụ của nhà nông như đinh bừa, quang gánh. Công việc diễn ra trong vòng một năm trời. Kết quả là toàn bộ công trình được "kiệu" lên cao ngang với mặt đê sông Hồng. Cuộc kiệu đình này tốn hết 500 đồng Đông Dương, mà công xá thời điểm ấy chỉ 7 xu một ngày. Hiệp thợ kiệu đình do ông Vương Văn Địch ở làng Văn Trì chủ trì.

Do có 4 cây cột trụ nổi bật ở mặt tiền nên khu vực đình tọa lạc được người Pháp gọi là 4 Colonnes. Phà Chèm cũng được họ gọi là Bac des 4 Colonnes.

Truyền thuyết về Đức thánh Chèm

Lý Thân (Đức thánh Chèm) sinh vào thời Hùng Duệ Vương, mất vào thời An Dương Vương. Thuở nhỏ ông là một cậu bé cực kỳ khôi ngô, có tầm vóc cao lớn lạ thường. Lớn lên, Lý Thân văn giỏi, võ tài, tính tình hiếu nghĩa, cương trực.

Thời bấy giờ có giặc Ai Lao, Chiêm Thành và giặc Tàu thường quấy nhiễu biên thùy. Nhà vua xuống chiếu cầu người tài đức ra dẹp giặc cứu nước. Phủ Quốc Oai bèn tiến cử Lý Thân. Ông lĩnh ý đi dẹp tan giặc, lập được nhiều công lớn. Cuối đời vua Duệ Vương, đất nước Văn Lang bị quân Tần xâm lược, ông hợp với Thục Phán cùng quân dân Lạc Việt chống giặc hàng chục năm trời. Cuối cùng giặc phải quay đầu bỏ chạy, Thục Phán lên làm vua lấy hiệu là An Dương Vương.

Lúc bấy giờ, nhà Tần bị giặc Hung Nô quấy phá. Tần Thủy Hoàng không ngăn chống nổi, bèn sai sứ sang cầu An Dương Vương cho tướng tài sang giúp. Triều đình bèn cử Lý Thân sang giúp nhà Tần để tạo mối bang giao giữa hai nước. Tần Thủy Hoàng thử tài ông, thấy văn đạt Hiếu liêm (tiến sĩ), võ đạt Hiệu úy (Tổng chỉ huy), bèn phong ông làm Hiệu úy và sai đi dẹp giặc, cho xuất 10 vạn quân trấn ải Hàm Dương. Thắng trận trở về, vua Tần phong ông chức Phụ tín hầu và gả công chúa cho. Vua Tần cũng ngỏ ý muốn giữ ông ở lại nước Tần nhưng ông đã từ bỏ vinh hoa phú quý, đem theo vợ con trở về quê hương. Về nước, ông được vua An Dương Vương phong tước Đại vương.

Để tưởng nhớ công đức của Đại vương, dân làng lập đền thờ ông tại đình Chèm.

Lễ hội

Hội Chèm diễn ra từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 5 Âm lịch, trong đó ngày 15 là ngày hội chính. Các nghi thức quan trọng của lễ hội đều được tổ chức tại Đình Chèm.

Tuy gọi là hội Chèm, song đây không phải là hội của duy nhất làng Chèm (Thụy Phương), mà kỳ thực là của một cụm làng ven sông Hồng, vì ngoài làng Chèm, còn có các làng Liên Mạc, Hoàng Xá cùng tham gia với tư cách là hai làng em.

Lễ rước nước diễn ra vào sáng ngày 15. Trong đó, có ba con thuyền rồng của ba làng bơi ra giữa sông Hồng, múc nước sông đổ vào chĩnh, rồi biểu diễn quay thuyền ba vòng trước khi bơi vào bờ. Sau đó là đám rước nước vào đình. Đây là dư âm của tín ngưỡng thờ nước vốn có từ xa xưa. Đám rước cũng có nhiều nghi thức cổ truyền khác. Hội còn có cuộc thi thả chim bồ câu, với từng đàn chim bồ câu được thả cho bay lên trời, đàn nào đạt tới được yêu cầu đề ra thì sẽ đoạt giải.

Kinh nghiệm đi chùa

  • Trang phục lịch sự, kín đáo; bỏ mũ nón và giữ yên lặng khi vào chánh điện.
  • Hương, hoa và lễ vật thường được bán ngay trước cổng chùa; chỉ nên thắp số lẻ (1 hoặc 3 nén).
  • Hầu hết các chùa mở cửa từ sáng sớm đến chiều tối và không thu vé (một số danh thắng lớn có vé thắng cảnh).
  • Dịp rằm, mùng 1 và lễ Tết rất đông; nếu muốn vãn cảnh yên tĩnh nên đi ngày thường buổi sáng.
  • Xin phép trước khi chụp ảnh trong điện thờ; không tự ý chạm vào tượng và đồ thờ.

Đọc thêm & tham khảo

Các liên kết hữu ích để tìm hiểu thêm trước khi ghé thăm:

Vị trí

Toạ độ: 21.09405, 105.77417

🧭 Chỉ đường trên Google Maps

Chùa khác tại Hà Nội

🏯
Các chùa ở Hương Sơn
Hương Sơn là một xã nằm ở phía nam huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Tại đây có nhiều dãy núi đá vôi kề bên những dòng suối uốn lượn quanh co. Trên núi và trong các hang, người ta đã cho xây dựng nhiều đền chùa mà trung tâm là chùa Hương trong động Hương Tích. Hệ thống chùa chiền, đền thờ và hang động nằm trong khu vực này dựa theo những ngọn núi đá vôi và rừng nhiệt đới, diện tích tất cả khoảng chừng 6 km².
🏯
Chùa Anh Linh
Chùa Anh Linh hay Anh Linh Tự nằm ở phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Chùa do công chúa Trần Khắc Hãn (công chúa Túc Trinh), con gái vua Trần Nhân Tông đã giúp nhân dân khai hoang, lập làng và xây dựng nên chùa này. Năm 1993, chùa được xếp hạng di tích lịch sử nghệ thuật.
Chùa Bà Đá
Chùa Bà Đá
Chùa Bà Đá, còn có các tên: Linh Quang tự, Sùng Khánh tự, là một ngôi chùa cổ ở số 3 phố Nhà Thờ, Hà Nội, gần hồ Hoàn Kiếm. Chùa Bà Đá được xây năm 1056 dưới đời Lý Thánh Tông. Chùa được dựng trên nền tháp Báo Thiên nổi tiếng của kinh thành Thăng Long xưa. Chùa có tiền đường xây theo kiểu chữ nhất, trung đường xây theo kiểu chữ đinh, được nối liền với nhau, tạo nên một khối kiến trúc vuông vắn. Trong chùa có nhiều tượng gỗ. Chùa nằm trên một con phố nhỏ và dài chỉ vài trăm mét nhưng hiện diện cả hai hệ ý thức tín ngưỡng Phật giáo và Công giáo. Chùa vốn là trường sở của Lâm Tế tông; hiện nay chùa là trụ sở chính Thành hội Phật giáo Hà Nội. Trong chùa có Trường Trung cấp Phật học Hà Nội. Tại chùa hàng năm vẫn thường xuyên là nơi tổ chức các buổi lễ của Thành hội Phật giáo Hà Nội. Trước kia trong chùa có Tượng Phát Lâm (tượng có nụ cười yêu đời) được coi là một trong tứ khí của Hà Nội.
🏯
Chùa Bà Già
Chùa Bà Già là một ngôi chùa ở làng Phú Gia, phường Phú Thượng, Hà Nội.
Chùa Bà Nành (Hà Nội)
Chùa Bà Nành (Hà Nội)
Chùa Bà Nành (còn có tên là Tiên Phúc tự), là một ngôi chùa tọa lạc ở số nhà 27 phố Văn Miếu (Hà Nội), một cổng khác nằm tại số 154 phố Nguyễn Khuyến.
Chùa Bà Ngô (Hà Nội)
Chùa Bà Ngô (Hà Nội)
Chùa Bà Ngô là một ngôi chùa cổ ở Hà Nội, có niên đại từ thời vua Lý Nhân Tông, có tên chữ là Ngọc Hồ tự tức Chùa Ngọc Hồ, hiện nay tọa lạc số 128 phố Nguyễn Khuyến, phường Văn Miếu, Hà Nội. Người Pháp quen gọi đây là chùa Sinh Từ, vì nó nằm trên đường Sinh Từ. Trải qua gần 900 năm tồn tại, chùa Bà Ngô lưu giữ được nhiều văn bia, câu đối và một khối lượng di vật rất lớn ở nhiều thể loại như long ngai, bài vị, các tế khí... Chùa là một kiến trúc tôn giáo đẹp, độc đáo gắn liền với nhiều sự tích và nhân vật trong tiến trình phát triển của lịch sử Thăng Long - Hà Nội.