Chùa Việt Nam

Chùa Kiểng Phước

TP. Hồ Chí Minh

Giới thiệu & lịch sử

Chùa Kiểng Phước (quân Pháp gọi là "chùa Chuông"), trước kia là một ngôi chùa của người Hoa đã quân liên quân Pháp-Tây Ban Nha chiếm đóng làm thành đồn vào năm 1860. Theo tư liệu thì ngôi này chùa này ở tại Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam) ngày nay, với "các cột bằng gỗ, hai cổng và tường đều bằng gạch và đã biến mất chỉ còn lại mấy cây gỗ mục trong khuôn viên chùa vào năm 1866".

Giới thiệu sơ lược

Theo học giả Vương Hồng Sển, chùa Kiển Phước ở đầu đường Phù Đổng Thiên Vương (tên có trước năm 1975, thời thuộc Pháp là đường Clochetons), gần thánh đường Hồi giáo trên vùng đất cao ráo; nay là nền trường Đại học Y Dược ở số 217, Hồng Bàng, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng quan điểm còn có nhà văn Sơn Nam.

Tuy nhiên, theo nghiên cứu của tác giả Nguyên Thanh, thì ngôi chùa này ở khoảng góc đường Hồng Bàng (trước là Hùng Vương) - Lý Thường Kiệt, tức ở gần Bệnh viện Hùng Vương ngày nay.

Và vì chùa Kiểng Phước đã bị phá hủy từ lâu, thêm không có tài liệu nào mô tả lại, nên không rõ lối kiến trúc của ngôi thờ ấy ra sao, hay cũng tương tự như các ngôi chùa Hoa khác ở quanh vùng, như Hội quan Nhị Phủ, Hội quán Ôn Lăng....

Liên quan đến một giai đoạn trong sử Việt

Ngày 17 tháng 2 năm 1859, thành Gia Định mất vào tay quân Pháp. Sau đó, họ nhanh chóng chiếm lấy các ngôi chùa cổ để làm đồn gọi là "phòng tuyến chùa chiền" (lignes des pagodes), gồm: chùa Khải Tường (pagode de Barbe), chùa Kiểng Phước (pagode des Clochetons), chùa Cây Mai (pagode des Pruniers), đền Hiển Trung (pagode de la Fidélité Éclatante, hay là pagode des Mares)...Phòng tuyến này trải dài từ Chợ Lớn đến Sài Gòn, chủ yếu là để bao vây và đánh Đại đồn Chí Hòa (quân Pháp gọi là "Kỳ Hòa").

Năm 1860, chùa Kiểng Phước bị quân Pháp do Đại úy Malet chỉ huy chiếm đóng và biến thành đồn phòng thủ trong khi Đề đốc Leonard Charner đang ở Trung Quốc. Theo ghi chép của Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu (giới thiệu ở phần sau), thì sau đó nơi đây đã từng xảy ra trận đánh ác liệt giữa liên quân Pháp-Tây Ban Nha và quân đội Việt...

Cuối tháng 2 năm 1861, Đại đồn Chí Hòa do tướng Nguyễn Tri Phương trấn giữ bị thất thủ. Sau đó, đến năm 1866, thì chùa Kiểng Phước "chỉ còn lại mấy cây gỗ mục trong khuôn viên chùa" mà thôi.

Trong ghi chép của một sĩ quan Pháp

Trung úy Hải quân Pháp Léopold Pallu là sĩ quan tùy viên Tổng hành dinh của Đề đốc Leonard Charner trong đoàn viễn chinh đánh Sài Gòn năm 1861, và là tác giả cuốn Histoire de L’Expédition de Cochinchine en 1961 (Lịch sử cuộc viễn chinh Nam Kỳ 1861), do nhà xuất bản Hachette in tại Pháp năm 1864, đã viết về chùa Kiểng Phước như sau:

"Chùa (Kiển Phước) xây cất giữa một cánh đồng mồ mả. Các tượng thần sơn vàng, chất đầy chung quanh các gian phòng trong chùa, vẻ mặt tượng trưng một trạng thái gần hoàn toàn thoát tục. Một đàn gà bươi móc khắp nơi, lính thủy và bộ binh nhìn thấy mà thèm. Trên bàn của các sĩ quan có để vài chai rượu vermouth và absinthe; trước mặt đồn súng 30 ly nòng dài có khía xếp thành hàng trên các bệ bắn, lớp sơn đen trầy trụa vì súng phải khiêng lên khiêng xuống. Các chùa hay đồn binh của ta vừa kể giữ nhiều vai trò: vừa là nông trại, đồn canh gác và pháo đội".

Ở một trang khác, tác giả này lại viết:

"Kể từ tháng 6 năm 1860, quan quân An Nam (chỉ quân đội nhà Nguyễn) có ý cô lập người Pháp với thành phố Tàu (tức vùng Chợ Lớn ngày nay), nơi tồn trữ gạo mà người Pháp đem xuất đi từ cảng Sài Gòn....(Cho nên) chúng ta bắt buộc phải giữ vững vị trí...

"Hai chùa khác nằm giữa đồn Cây Mai và Sài Gòn liền được ta chọn thêm để củng cố làm đồn và ta sẽ giữ vững bất cứ giá nào. Việc sửa sang hai chùa để làm nơi phòng thủ bắt đầu ngay tức thời. Chùa thứ nhất là chùa Ao (đền Hiển Trung), sân chùa có tường gạch chung quanh, tạm có thể phòng thủ được ngay. Chùa cách xa các tuyến phòng thủ của địch. Chùa thứ hai là chùa Clochetons (chỉ chùa Kiến Phước) hoàn toàn trống trải và chỉ cách miệng đường hầm của địch (chỉ quân đội nhà Nguyễn) có 400 mét. Ta liền lấy ngay đất ở mồ mả chung quanh đắp tường phòng ngự.

"Ta không thấy quân An Nam đổ ra phòng ngự đường hố đã đào. Nhưng ngay ngày hôm sau bất ngờ nổ súng tủa vào chùa giết mất một người và làm bị thương thêm vài người khác. Mấy nấm mồ ta đã lấy hết đất, vì thế phải đi xa hơn và dùng bao để mang đất về; việc đắp tường phòng thủ tiến triển chậm chạp, cực nhọc, lộ liễu không có gì che tránh địch quân".

"Trong đêm mùng 3, rạng ngày mùng 4 tháng 7, quân An Nam, ít nhất cũng đến 2.000 người, yên lặng vượt khỏi thành, bao vây chùa, trong khi đó chùa chưa biến hẳn thành đồn. Họ xông thẳng vào chùa, hò hét vang lừng. Hỏa pháo của địch cũng bắn vào các chùa khác (đã bị quân Pháp chiếm làm đồn) để làm thế nghi binh và đồng thời cũng bắn vào chùa Clochetons nữa, quân thì bắn xối xả vào người Pháp, người Tây Ban Nha và người An Nam trong đồn. Đánh giết nhau suốt một giờ đồng hồ. Nhờ viện binh từ Sài Gòn kéo lên mới chấm dứt được trận chiến. Kẻ thù bỏ lại một trăm xác chết".

"Quân lính của đồn Clochetons gồm có 100 quân Tây Ban Nha do trung úy Hernandez chỉ huy, và 60 người Pháp do hai trung úy hải quân cầm đầu là Narac và Gervais. Quân An Nam không trở lại tấn công đồn Clochetons nữa; nhưng lại đào từ cửa hầm đôi một đường hố khác bọc song song phía sau đường phòng tuyến của ta. Do đó đồn Pháp và Tây Ban Nha lọt vào giữa hai đường hố phòng thủ của họ, chận hẳn đường thông thương với cánh đồng phía sau thành Ki-hoa (Kỳ Hòa, chỉ Đại đồn Chí Hòa).

Kinh nghiệm đi chùa

  • Trang phục lịch sự, kín đáo; bỏ mũ nón và giữ yên lặng khi vào chánh điện.
  • Hương, hoa và lễ vật thường được bán ngay trước cổng chùa; chỉ nên thắp số lẻ (1 hoặc 3 nén).
  • Hầu hết các chùa mở cửa từ sáng sớm đến chiều tối và không thu vé (một số danh thắng lớn có vé thắng cảnh).
  • Dịp rằm, mùng 1 và lễ Tết rất đông; nếu muốn vãn cảnh yên tĩnh nên đi ngày thường buổi sáng.
  • Xin phép trước khi chụp ảnh trong điện thờ; không tự ý chạm vào tượng và đồ thờ.

Đọc thêm & tham khảo

Các liên kết hữu ích để tìm hiểu thêm trước khi ghé thăm:

Chùa khác tại TP. Hồ Chí Minh

Chùa Ấn Quang
Chùa Ấn Quang
Chùa Ấn Quang hay Tổ đình Ấn Quang là một ngôi chùa ở phường Vườn Lài, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam và đây cũng là một trường Phật học của Giáo hội Phật giáo Việt Nam ở miền Nam. Chùa Ấn Quang tọa lạc tại 243 đường Sư Vạn Hạnh, phường Vườn Lài, thành phố Hồ Chí Minh. Chùa được tạo lập năm 1948 và đã được mở rộng nâng cấp. Hiện nay chùa có thư viện và nhà xuất bản. Chùa Ấn Quang đã là nơi đặt trụ sở của Phật học đường Nam Việt, Giáo hội Tăng già Nam Việt (1959-1963), cơ sở chính của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và văn phòng Viện Hóa Đạo và Viện Tăng Thống (1976 - 1980), từng là trụ sở Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam (từ năm 1982 đến 2017, trụ sở Ban trị sự Thành hội hiện nay đã được dời về Việt Nam Quốc Tự). Chùa thường được gọi với tên Tổ đình Ấn Quang. Tổ đình Ấn Quang được xây dựng cách nay không lâu, nhưng lại giữ một vị trí rất đặc biệt trong lịch sử Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Nơi đây đã từng chứng kiến nhiều sự kiện quan trọng trong những bước thăng trầm và phát triển của đạo Phật ở miền Nam. Tổ đình Ấn Quang được xây dựng năm 1950, do Thiền sư Trí Hữu khai sơn, sau đó Thiền sư Nhất Hạnh từ Huế vào cùng xây dựng và kiến thiết, ban đầu bằng mái tranh, vách đất. Sau này chùa trở thành Phật học đường Nam Việt - viện Phật học với tinh thần đổi mới.
Chùa Bửu Long
Chùa Bửu Long
Chùa Bửu Long, tên chính thức là Thiền viện Tổ đình Bửu Long, là một ngôi chùa tọa lạc trên một ngọn đồi bên sông Đồng Nai tại địa chỉ số 81 đường Nguyễn Xiển, phường Long Bình, Thành phố Hồ Chí Minh. Chùa thuộc hệ phái Phật giáo nguyên thủy Nam tông, do cư sĩ Võ Hà Thuật thành lập năm 1942. Đến năm 2007, chùa được đầu tư xây dựng và trùng tu. Chùa Bửu Long mang nét kiến trúc các chùa ở Thái Lan, Ấn Độ kết hợp cùng nét kiến trúc các chùa thời Nguyễn. Điểm nhấn của chùa là ngôi bảo tháp có tên gọi Gotama Cetiya, được thi công xây dựng từ năm 2007, hoàn thành sau 6 năm. Bảo tháp Gotama Cetiya là nơi thờ xá lợi Phật và các Chư Thánh Tăng. Bảo tháp rộng trên 2.000 m², cao 70 m, được xây dựng theo nét của văn hóa Phù Nam. Xung quanh là các tháp nhỏ, đều làm bằng đồng, có màu vàng óng. Gotama Cetiya là ngôi bảo tháp có quy mô lớn nhất Việt Nam với 5 tháp lớn nhỏ, tháp chính điện ở trung tâm cao và lớn nhất với 7 tầng. Tầng trệt và tầng 2 là hội trường, tầng 3 và 4 là hai thiền đường, tầng 5 là tháp tôn trí xá lợi Phật và chư vị thánh tăng.
Chùa Cây Mai
Chùa Cây Mai
Chùa Cây Mai còn có tên là Mai Sơn tự (chùa núi Mai) hay Mai Khâu tự (chùa gò Mai), tọa lạc trên gò Mai, thuộc Gia Định xưa. Trong thời Pháp thuộc, ngôi chùa đã bị tháo gỡ, chỉ còn lại gò Mai gần như phẳng lì, nằm ở góc đường Hồng Bàng - Nguyễn Thị Nhỏ thuộc phường Minh Phụng, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa Chantarangsay
Chùa Chantarangsay
Chùa Chantarangsay, còn có tên gọi khác là chùa Candaransi, được biết đến ở tại địa phương với tên gọi không chính thức chùa Khmer, là một ngôi chùa Phật giáo Nam Tông tại phường Xuân Hòa (địa bàn Quận 3 cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Được xây dựng vào năm 1946, chùa mang đậm ảnh hưởng văn hóa và kiến trúc của người Khmer, giao thoa giữa truyền thống Phật giáo và nghệ thuật kiến trúc cổ Campuchia. Hiện chùa tọa lạc tại số 164/235 đường Trần Quốc Thảo, bên bờ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè. Chùa Chantarangsay cùng với chùa Chùa Pothiwong được xem là di sản kiến trúc tiêu biểu của cộng đồng người Khmer khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
🏯
Chùa Giác Hải
Chùa Giác Hải trước gọi là chùa Giác Sơn được dựng vào năm 1887 bởi bà Trần Thị Liễu, chùa cúng cho Hòa thượng Hoằng Ân, sau đệ tử là ngài Từ Phong về trụ trì chùa, là giảng sư danh tiếng của Phật giáo có đến 20 chùa cúng ngài, sau đó chùa đổi tên chùa là Giác Hải. Chùa tọa lạc ở số 345/45 đường Hùng Vương, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chùa Giác Lâm
Chùa Giác Lâm
Chùa Giác Lâm (tiếng Trung: 覺林寺:; Hán-Việt: Giác Lâm tự) còn có các tên khác: Cẩm Sơn, Sơn Can hay Cẩm Đệm; là một trong những ngôi chùa cổ nhất của Thành phố Hồ Chí Minh. Đây chính là tổ đình của phái Thiền Lâm Tế tông ở Nam Bộ. Chùa tọa lạc tại số 565 (số cũ 118) đường Lạc Long Quân, thuộc Phường Bảy Hiền, Thành phố Hồ Chí Minh, và đã được Bộ Văn hóa (nay là Bộ Văn hóa - Thông tin) công nhận là di tích lịch sử - văn hóa quốc gia của Việt Nam theo quyết định số 1288-VH/QĐ ngày 16 tháng 11 năm 1988.